• Trang chủ
  • Blog
  • Bác sỹ làn da
  • Vì sao bạn trị mãi mà không hết mụn? Bài viết sẽ giúp bạn chẩn đoán và điều trị mụn từ gốc.
Bác sỹ làn da

Vì sao bạn trị mãi mà không hết mụn? Bài viết sẽ giúp bạn chẩn đoán và điều trị mụn từ gốc.

Vì sao bạn trị mãi mà không hết mụn? Bài viết sẽ giúp bạn chẩn đoán và điều trị mụn từ gốc.
Mụn là một rối loạn cấp tính xảy ra trên da và phổ biến trong dân số. Mục tiêu trị liệu căn cứ vào 4 yếu tố chịu trách nhiệm cho sự hình thành tổn thương: tăng sản xuất bã nhờn, quá trình sừng hoá.

Mụn là một rối loạn cấp tính xảy ra trên da và phổ biến trong dân số. Mục tiêu trị liệu căn cứ vào 4 yếu tố chịu trách nhiệm cho sự hình thành tổn thương: tăng sản xuất bã nhờn, quá trình sừng hoá, sự phát triển của vi khuẩn Propionibacterium acnes và phản ứng viêm.

Các mục tiêu điều trị bao gồm phòng ngừa sẹo, giảm các ảnh hưởng về tâm lý và khắc phục các tổn thương. Phân loại mụn dựa trên loại tổn thương và mức độ nghiêm trọng để đưa ra hướng dẫn điều trị phù hợp. Retinoid dùng tại chỗ có hiệu quả trong điều trị tổn thương viêm và không viêm bằng cách ngăn ngừa mụn trứng cá, giảm mụn trứng cá hiện có và kháng viêm. Benzoyl peroxide là một chất diệt khuẩn kê đơn không dẫn tới kháng thuốc của vi khuẩn. Kháng sinh tại chỗ và bằng Đường uống có hiệu quả trong đơn trị liệu, nhưng có hiệu quả hơn khi kết hợp với retinoid bôi. Việc bổ sung các benzoyl peroxide trong điều trị kháng sinh làm giảm nguy cơ kháng thuốc của vi khuẩn.  Isotretinoin uống được phê duyệt để điều trị mụn trứng cá day dẳng và nghiêm trọng. Sau khi đạt được mục tiêu điều trị, điều trị duy trì nên được thực hiện. Không có bằng chứng rõ ràng về việc sử dụng liệu pháp laser và ánh sáng trong điều trị mụn.

Bệnh sinh

Mụn trứng cá là một bệnh viêm mãn tính liên quan đến các đơn vị tuyến bã.  Nó được đặc trưng bởi sự phát triển của một nhân mụn trứng cá trong nang. Bốn yếu tố chính dẫn đến sự hình thành của mụn:

  • Tăng tiết bã nhờn, trong đó androgen có một vai trò quan trọng.
  • Quá trình keratin hoá.
  • Sự phát triển của vi khuẩn yếm khí Propionibacterium.
  • Phản ứng viêm.

Tình trạng viêm có thể bắt đầu trước khi karatin hoá nang. Phương pháp điều trị hiện tại nhắm mục tiêu bốn yếu tố để kiểm soát tình trạng cấp tính và duy trì dài hạn.

Chẩn đoán

Mụn được chẩn đoán bằng cách xác định các tổn thương. Tổn thương mụn có thể là mụn không viêm mở hoặc đóng (mụn đầu đen và mụn đầu trắng) đến các tổn thương viêm, trong đó có thể là các sẩn (papule), mụn mủ (pustule) hoặc nốt (nodule). Tổn thương có nhiều khả năng xảy ra trên mặt, cổ, ngực và lưng, nơi có mật độ cao hơn của các tuyến bã nhờn. Các vấn đề da khác có thể có biểu hiện giống tổn thương mụn trứng cá và cũng có thể được gọi là mụn nhưng chúng không có nhân. Chẩn đoán mụn dựa trên các loại tổn thương và mức độ nghiêm trọng của chúng, giúp quyết định phương pháp điều trị sẽ tiến hành.

Mục tiêu trị liệu

Mục tiêu điều trị ở những bệnh nhân bị mụn trứng cá bao gồm ngăn ngừa sẹo, giảm tỷ lệ mắc bệnh tâm lý và giảm thương tổn viêm và không viêm. Điều trị cần được tiếp tục trong ít nhất tám tuần trước khi có đáp ứng điều trị nhìn thấy.

Phương pháp điều trị tại chỗ: Kê đơn

Retinoid bôi

Chúng giúp ngăn chặn sự hình thành và giảm số lượng các mụn trứng cá, hữu ích đối với các thương tổn không viêm. Retinoids bôi cũng có đặc tính chống viêm, khiến chúng phần nào hữu ích trong điều trị các thương tổn viêm. Bôi retinoid được chỉ định đơn trị liệu trong điều trị mụn không viêm và kết hợp thuốc kháng sinh để điều trị mụn trứng cá viêm. Ngoài ra, retinoid còn hữu ích trong duy trì hiệu quả khi mục tiêu điều trị đã đạt được và khi liệu trình được đã hoàn tất. Nhìn chung, adapalene là retinoid dung nạp tại chỗ tốt nhất. Một số bằng chứng cho thấy tazarotene hiệu quả hơn so với adapalene và tretinoin (Retin-A). Không có bằng chứng nào cho thấy công thức nào vượt trội hơn hẳng công thức nào.

Kháng sinh trị liệu

Kháng sinh tại chỗ được sử dụng chủ yếu để điều trị mụn nhẹ đến trung bình viêm hoặc mụn trứng cá hỗn hợp. Clindamycin và erythromycin được nghiên cứu nhiều nhất. Chúng đôi khi được sử dụng đơn trị liệu, nhưng có hiệu quả hơn khi kết hợp với retinoid bôi. Vì khả năng kháng sinh tại chỗ có thể gây đề kháng, nên người ta khuyến cáo nên kết hợp benzoyl peroxide vào phác đồ trị liệu.

Các hoạt chất khác

Axit azelaic: cần được xem xét để sử dụng ở phụ nữ mang thai. Công thức dạng cream được sự chấp thuận của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm thuộc Hoa Kỳ (FDA) để điều trị mụn trứng cá vulgaris, nhưng dạng gel có sinh khả dụng tốt hơn. Đây là hoạt tính có hiệu quả kết hợp giữa đặc tính kháng sinh và các hiệu ứng hình thành nhân mụn, hiệu quả trong điều trị mụn nhẹ đến trung bình có viêm hoặc hỗn hợp.

Dapsone: là một trong những tác nhân được FDA chấp nhận trong điều trị mụn đầu tiên. Mặc dù nó là một loại kháng sinh nhưng cũng có khả năng cải thiện mụn trứng cá bằng cách ức chế viêm. Trong các nghiên cứu, dapsone hiệu quả hơn giả dược trong việc làm giảm các tổn thương viêm và không viêm nhưng chưa bao giờ được so sánh với các tác nhân khác. Không giống như dapsone dùng bằng đường uống, không có bằng chứng cho thấy các hoạt chất này gây thiếu máu, tan máu hoặc phản ứng da nặng.

Phương pháp điều trị tại chỗ: không cần kê đơn

Benzoyl peroxide: là một tác nhân kháng khuẩn không cần kê đơn. Benzoyl peroxide là hoạt chất duy nhất có đặc tính như một kháng sinh nhưng nó không gây sự kháng thuốc. Đây là hoạt chất hiệu quả nhất trong điều trị mụn nhẹ đến trung bình khi sử dụng kết hợp với retinoid bôi., Benzoyl peroxide cũng có thể được thêm vào các phác đồ có kháng sinh tại chỗ và uống để giảm nguy cơ kháng thuốc của vi khuẩn.

Salicylic acid: có mặt trong một loạt các sản phẩm không kê đơn giúp làm sạch da. Những sản phẩm này có tác dụng chống hình thành mụn nhưng yếu hơn so với retinoid bôi, song các nghiên cứu có giới hạn.